Archive
MẸO PHÂN BIỆT CÁC PHONG CÁCH NGÔN NGỮ Ở ĐỀ ĐỌC HIỂU
Đây là thứ hay cãi nhau nhất, nhưng chỉ cần nắm vài mẹo nhỏ xíu này là có thể dễ dàng kiếm điểm. Nói là mẹo nhỏ chứ phải động não đó nghen. Xem clip kĩ một chút nhé. Thầy Khôi dạy Văn.
Mị cắt dây trói: bột phát hay tất yếu?
Đề: Cảm nhận về hành động Mị cắt dây cởi trói cứu A Phủ có ý kiến cho rằng “Đó là hành động bột phát “.Ý kiến khác lại khẳng định “Đó là hành động tất yếu phù hợp với tính cách của nhân vật”. Qua việc phân tích diễn biến tâm lí Mị trong đêm đông, anh (chị) hãy bàn luận về ý kiến trên.
- Mở bài: Tác giả > Phong cách, nội dung sáng tác chủ đạo > tác phẩm tiêu biểu: VCAP > Nội dung chủ đề tác phẩm > 2 ý kiến
- Thân bài
- Giới thiệu chung:
– Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, v.v. Tóm tắt nội dung phần đầu phần đêm tình mùa xuân [chú ý làm thật gọn, chỉ chừng 3-4 câu là đủ. Tham khảo: Vợ chồng A Phủ là tác phẩm trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, được sáng tác vào khoảng 1952-1953, là kết quả của cuộc thâm nhập đời sống vào các dân tộc Thái, Dao, Hmông, Mường trên các vùng cao Tây Bắc đất nước. Tác phẩm kể về Mị, người con gái núi rừng bị bắt làm dâu trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Trong quãng thời gian đày đọa đó, Mị đã thể hiện sức sống mãnh liệt của mình qua những khao khát vượt thoát trong đêm tình mùa xuân. Tác phẩm cũng xây dựng hình tượng nhân vật A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh, lương thiện bị nhà thống lí Pá Tra hành hạ vì tội để hổ bắt mất một con bò. A Phủ và Mị sau đó tìm đến với nhau, tự giải thoát cho nhau như kết quả tất yếu của những con người bị đè nén, áp bức bởi các thế lực cường quyền.)
– Giải thích:
+ Ý kiến “hành động bột phát”: nhấn mạnh tính bất ngờ, kì lạ trong hành động của Mị
+ Ý kiến “tất yếu”: nhấn mạnh sự hợp lí trong quá trình thức tỉnh của Mị, đặc biệt là hệ quả của vệc bừng thức sau đêm tình mùa xuân.
- Phân tích
[Đoạn phân tích này phải làm đủ các ý của đêm đông để dẫn dắt, không được để đề bài đánh lừa, tức là chỉ nói mỗi chuyện cắt dây trói]
++ Yếu tố tác động: khi đang thức sưởi lửa để xua đi cái lạnh của “những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn”, vô tình Mị “lé mắt trông sang” và thấy “hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”.
++ Diễn biến tâm trạng, hành động:
– Đầu tiên, Mị lạnh lùng, vô cảm khi “vẫn thản nhiên nổi lửa, hơ tay”; cô đã nghĩ “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.
– Nhưng khi chợt chứng kiến nước mắt của A Phủ, Mị dần thay đổi. Mị nhớ lại hoàn cảnh của mình trước đây khi bị A Sử hành hạ: “Mị cũng phải trói đứng thế kia, nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”.
– Cô bắt đầu thấy cảm thông cho A Phủ “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” và căm phẫn tội ác của cha con thống lí “nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác”.
– Cô nghĩ đến thân mình “là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi” và nhận thức được sự vô lí đối với A Phủ: “người kia việc gì mà phải chết thế”, đồng thời Mị tưởng tượng cảnh nếu A Phủ trốn được, Mị sẽ phải chết thay.
++ Kết quả
– Dần dần Mị đã thắng sự sợ hãi, “nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…” để dẫn đến kết quả là hành động cắt dây trói nhanh chóng, dứt khoát. Và sau phút dây ngắn ngủi “đứng lặng trong bóng tối”, Mị đã “vụt chạy ra” trốn thoát cùng A Phủ.
– Hành động này hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển của tâm lí nhân vật. Tuy có tính chất tự phát song đó là kết quả tất yếu của một quá trình bị dồn nén, bức xúc về tinh thần đòi hỏi phải được giải thoát.
– Với hành động đấy Mị không chỉ cứu người mà cô còn cứu được cả chính mình.
- Bàn luận
– Kết luận 2 ý kiến: không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau.
– Tư tưởng nhân đạo của tác giả: niềm tin vào sự sống tiềm tàng; mở ra cho con người cùng khổ con đườn mới tươi sáng [cách mạng]
– Nghệ thuật: khắc họa nhân vật sinh động: tính cách phong phú, phát triển hợp lí, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm; Ngôn ngữ chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính chất tạo hình, giàu chất thơ, đậm đà phong vị miền núi.
III. Kết bài (tự làm)
Thầy Khôi dạy Văn
Cách làm phần Đọc – hiểu đề Văn 12
Phần đọc – hiểu có thể coi là phần…cho điểm trong đề thi Văn 12. Nhưng làm sao để lấy được trọn 3 điểm không phải là chuyện dễ dàng, chủ yếu là do tâm lí người chấm. Vì vậy mình phải làm mọi cách để có câu trả lời khôn ngoan nhất, hiệu quả nhất, để người chấm khó tính đến đâu cũng phải cho điểm mình, dù có thể mình viết không hay, nhưng phải đúng và đủ. Các bạn theo dõi clip sau để có kinh nghiệm làm bài nhé.
Thầy Khôi dạy Văn
Phân tích 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
Đề: Phân tích 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du
I. Mở bài:
[như đề trên] Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã chứng tỏ điều đó, đặc biệt là ở 8 câu thơ cuối: [trích thơ]
II.Thân bài:
1. Tổng:
– Vị trí đoạn trích: Gia đình bị vu oan, bị lừa, bị làm nhục và bị đẩy vào lầu xanh, Kiều rút dao tự vẫn nhưng không chết. Tú Bà đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để thực hiện một âm mưu mới. Với tâm trạng bẽ bàng, Kiều nhớ tới người yêu, nhớ cha mẹ và quay lại tự đối thoại với lòng mình. Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Mỗi cảnh vật đều làm rõ một nét tâm trạng của Kiều.
– Giải thích thế nào là bút pháp tả cảnh, ngụ tình. Giới thiệu đôi nét về nghệ thuật này trong “Truyện Kiều”.
– Tám câu cuối: bức tranh tâm trạng của Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
2. Phân
-Một loạt các từ láy, các hình ảnh ẩn dụ, các câu hỏi tu từ, điệp ngữ “buồn trông” đã góp phần thể hiện rõ tâm trạng Thuý Kiều. Cảnh và tình uốn lượn song song. Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh. Đúng như Nguyễn Du từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
a. Luận điểm 1: Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa?
– Một không gian mênh mông cửa bể chiều hôm gợi nỗi buồn mênh mông như trời biển. Hình ảnh con thuyền và cánh buồm thấp thoáng, biến mất trong hoàng hôn biển gợinỗi cô đơn, lạc lõng bơ vơ, gợi hành trình lưu lạc. Cảnh tha hương gợi nỗi nhớ gia đình, quê hương và khát khao sum họp đến nao lòng.
b. Luận điểm 2: Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Nhìn cảnh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa, Kiều buồn và liên tưởng tới thân phận mình cũng như cánh hoa lìa cội, lìa cành bị ném vào dòng đời đục ngầu thác lũ. Hình ảnh “hoa trôi” gợi kiếp người trôi nổi, bập bềnh, lênh đênh, vô định và một tâm trạng lo lắng sợ hãi cho tương lai vô định của mình.
c. Luận điểm 3: Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Nhìn cảnh nội cỏ nhạt nhoà, mênh mông “rầu rầu”: màu của sự úa tàn, thê lương ảm đạm (giống màu cỏ ở nấm mộ Đạm Tiên “dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”, khác màu cỏ trong tiết thanh minh), Kiều có tâm trạng mệt mỏi chán chường, tuyệt vọng và cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnhvới một tương lai mờ mịt, hãi hùng.
d. Luận điểm 4: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiêng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Khép lại đoạn thơ lã những âm thanh dữ dội “gió cuốn, sóng kêu” như báo trước những dông tố của cuộc đời sắp ập xuống cuộc đời Kiều. Nàng hốt hoảng, kinh hoàng- chới với như sắp bị rơi xuống vực thẳm sâu của định mệnh.
3. Hợp: Đánh giá chung về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
Có thể nói, thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng ũng rất ảo. Đó là thiên nhiên được nhìn qua tâm trạng – được nhìn từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn tả nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, hãi hùng, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệtvọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục. Bốn câu thơ lục bát được liên kết bởi điệp ngữ “buồn trông” nghĩa là buồn mà nhìn xa, mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làmthay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn, có cả sự dự cảm hãi hùng của người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang ngửa. Điệp ngữ kết hợp với các hình ảnh ẩn dụ đứng sau, câu hỏi tu từ cùng các từ láy “thấp thoáng”,”xa xa”,”rầu rầu”,”ầm ầm” đã diễn tả nỗi buồn nhiều bề trong Kiều với nhiều sắc độ khác nhau, trào dâng lớp lớp như những con sóng lòng. Tất cả tạo nên âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc đoạn thơ, cũng là điệp khúc của tâm trạng.
III. Kết bài:
-Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như khi ngụ tình. Mỗi cảnh thiên nhiên trong đoạn đã diễn tả một sắc thái tình cảm khác nhau của Kiều. Tám câu thơ cuối đoạn trích “Kiều ở lầuNgưng Bích” tạo thành bức tranh tứ bình của tâm trạng, có cấu trúc cân đối hài hòa đã khiến cho bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du được nâng lên mẫu mực cổ điển.
– Đằng sau sự thành công của bút pháp tả cảnh ngụ tình ấy là một trái tim yêu thương vô hạn với con người, là sự đồng cảm, sẻ chia xót thương cho một kiếp hồng nhan bạc mệnh và ngầm tố cáo xã hội bất công đã chà đạp lên quyền sống và nhân phẩm con người.
Like page facebook Thầy Khôi dạy Văn để có nhiều tài liệu hơn
LỊCH HỌC CÁC LỚP 2017-2018 TẠI NHÀ THẦY KHÔI
ĐỊA CHỈ HỌC: 211/26 MINH PHỤNG, F9, Q6, HCM
NHẬN HỌC SINH LIÊN TỤC — Đăng kí: 0984346280

