Archive

Author Archive

CÁCH PHÂN TÍCH MỘT ĐOẠN THƠ LỚP 9

CÁCH PHÂN TÍCH MỘT ĐOẠN THƠ LỚP 9
* Mở: Giới thiệu tác giả => Tên tác phẩm => Đoạn cần cảm nhận => Khái quát nội dung
* Thân:
B1. Nêu luận điểm chính (gọi tên luận điểm/ ý chính bằng 1 câu văn)
B2. Đưa dẫn chứng ra phân tích: miêu tả hình ảnh thơ/ diễn đoạn thơ đó thành văn xuôi
B3. Chỉ ra đã dùng biện pháp nghệ thuật gì => thể hiện qua những từ ngữ nào => tác dụng của nó
B4. So sánh với đoạn thơ của tác phẩm khác để nâng cao, mở rộng (bước này khó, nhưng nếu làm được sẽ làm bài viết thêm sâu sắc)
* Kết
– Đánh giá thành công của đoạn thơ
– Liên hệ bản thân
…..
Đề 1: Cảm nhận đoạn thơ đầu của bài Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận)
“Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ xuất sắc, tiêu biểu cho hồn thơ khỏe khoắn của Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám. Đặc biệt là ở khổ thơ đầu, nhà thơ đã miêu tả khung cảnh thiên nhiên và đoàn thuyền ra khơi mang một vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng.
Trước hết, cảnh biển vào đêm được tác giả miêu tả rất đặc sắc:
“Mặt trời xuống biển….lại ra khơi”
Mặt trời được ví như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống mặt biển. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ và những lượn sóng là chiếc then cài vững chắc. Hình ảnh so sánh kết hợp nhân hóa, mang đậm chất lãng mạn vừa tạo nên vẻ đẹp huyền ảo cho bức tranh thiên nhiên vừa mở ra thời gian cho bức tranh lao động biển cả, đó chính là lúc màn đêm buông xuống – kết thúc một ngày.
Chính vào thời điểm thiên nhiên bắt đầu trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu quá trình lao động của mình:
“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khoi”
Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển, gây ấn tượng về một khối lao động đoàn kết vững chãi của con người. Chữ “lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động ổn định của người dân chài ngày qua ngày, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự lao động của con người. Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà vẫn đậm chất hiện thực. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên, thế nhưng nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi. Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực. Đó là tâm trạng nao nức, niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài khi ra khơi. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi…
Hình ảnh người lao động mới là đề tài quen thuộc của nền văn học hiện đại. Ta đã từng thấy hình ảnh của một anh thanh niên làm công tác khí tượng kiên trì, lặng lẽ trên đỉnh Yên Sơn trong “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long; hay một khát vọng cống hiến nhỏ bé trong “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải. Mỗi nhân vật tuy khác nhau về nghề nghiệp, hoàn cảnh, nhưng họ có chung với nhau tinh thần cống hiến lặng thầm cho Tổ quốc. Đó chính là vẻ đẹp giản dị nhưng rất cao quý của người lao động trong thời đại mới.
……..
Đề 2 : Cảm nhận về 7 câu thơ đầu của bài “Đồng chí” – Chính Hữu.
Mở: Chính Hữu là nhà thơ quân đội > Bài thơ Đồng chí là tác phẩm nổi bật > Bảy câu thơ đầu
Thân:
a. Ý 1: Các anh đều có chung cảnh ngộ xuất thân.
– Gọi tên luận điểm: Mở đầu bài thơ là lời tâm sự của các anh bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp về cảnh ngộ xuất thân.
– Miêu tả bằng văn xuôi: Bằng cách sử dụng những thành ngữ quen thuộc “nước mặn đồng chua, đất cày sỏi đá”, tác giả đã miêu tả xuất thân của mỗi người lính. Quê hương “anh” là vùng ven biển, nước mặn, đồng chua còn làng “tôi”thì ở vùng đồi núi trung du, đất cày lên sỏi đá. Tuy khác nhau về vùng miền, nhưng các anh đều chung cảnh ngộ quê nghèo, các anh đều là những nông dân chân lấm tay bùn đáp lại tiếng gọi non sông, ra đi và tham gia kháng chiến.
– Gọi tên: Với những mục đích, lí tưởng chung nên các anh đã trở thành đồng chí, tri kỉ
– Miêu tả: Chính nơi bom đạn hiểm nguy này họ đã gặp nhau, tìm thấy điểm chung trong lý tưởng: “Súng bên súng đầu sát bên đầu”. Đây là một câu thơ đa nghĩa, giàu sức gợi. Hình ảnh “súng bên súng” vừa diễn tả hình ảnh đứng gác cạnh nhau, nhưng cũng ngầm ý nói họ có chung kẻ thù, chung hướng bắn. “Đầu sát bên đầu” vừa diễn tả hình ảnh thực của hai người lính sát vai nhau, nhưng cũng vừa là hình ảnh ẩn dụ khẳng định họ có chung lý tưởng, chung ý chí. Và cùng sống trong một gia đình người lính, cùng san sẻ mọi điều, họ trở nên bạn bè, trở nên tri kỉ: “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”. Kết thúc khổ thơ là một câu thơ đột ngột, gieo vào giữa lòng bài thơ…
*Liên hệ mở rộng: So sánh, liên hệ với “Bài thơ về tiẻu đội xe không kính”
Tình đồng chí đồng đội là một đề tài lớn của văn học kháng chiến. Ta cũng đã thấy tình cảm cao đẹp này được miêu tả như tình cảm gia đình trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời/ Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Hay là tình chị em thắm thiết của những cô gái thanh niên xung phong trong “Những ngôi sao xa xôi”. Dù biểu hiện đa dạng như thế nào, thì chính tình đồng chí ấy đã tiếp thêm động lực để con người vươn lên chiến thắng hoàn cảnh khó khăn thử thách, để chính họ là những người đã làm nên chiến thắng của dân tộc.
….
Đề 3: Phân tích đoạn thơ cuối của bài thơ Đồng chí – Chính Hữu
Vẻ đẹp của người lính tỏa sáng nhất khi họ đang thực thi nhiệm vụ. Đêm nay, những người đồng chí đứng bên nhau canh gác giữa đất trời quê hương:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”
Bất kể đêm lạnh, bất kể thiếu thốn vật chất, bất kể bệnh tật, họ vẫn kiên cường làm tròn bổn phận người lính của mình. Họ đã trở thành đồng chí, nghĩa là luôn sát cánh bên nhau trong mọi hiểm nguy. Động từ “chờ” thể hiện sự hiên ngang dũng cảm, sẵn sàng đương đầu với kẻ thù. Dưới ánh trăng đêm, hình ảnh người lính đứng gác bên nhau đẹp đẽ như những bức tượng đài kiêu hùng giữa quê hương.
Ba câu thơ phác ra một bức tranh vừa mang chất chân thực của bút pháp hiện thực, vừa thấm đẫm cái bay bổng của bút pháp lãng mạn. Giữa cái tê buốt giá rét luồn vào da thịt, cái căng thẳng của trận đánh sắp tới, trên sắc xám lạnh của nền cảnh đêm rừng hoang sương muối, hiện lên hình ảnh người lính – khẩu súng – vầng trăng. Dưới cái nhìn của người trong cuộc, người trực tiếp đang cầm súng, trong một sự kết hợp bất ngờ, đầu súng và vầng trăng như không còn khoảng cách xa về không gian, để thành: “Đầu súng trăng treo”. Hình ảnh súng tượng trưng cho hành động chiến đấu, tinh thần quyết chiến vì đất nước. Trăng tượng trưng cho cái đẹp yên bình, thơ mộng. Hai hình ảnh tương phản sóng đôi với nhau tạo nên biểu tượng về tinh thần, ý chí sắt đá mà bay bổng, trữ tình của người lính: quyết chiến đấu để thống nhất non sông, đem lại cuộc sống bình yên cho nước nhà.
THẦY KHÔI DẠY VĂN
CẤP TỐC VĂN 9: 18h–21h thứ 2, bắt đầu ngày 12/3/2018
Liên hệ đăng kí: 0984346280 (Thầy Khôi)

Categories: Luyện thi Văn 9

MẸO PHÂN BIỆT CÁC PHONG CÁCH NGÔN NGỮ Ở ĐỀ ĐỌC HIỂU

Đây là thứ hay cãi nhau nhất, nhưng chỉ cần nắm vài mẹo nhỏ xíu này là có thể dễ dàng kiếm điểm. Nói là mẹo nhỏ chứ phải động não đó nghen. Xem clip kĩ một chút nhé. Thầy Khôi dạy Văn.

Categories: Luyện thi Văn 12

Mị cắt dây trói: bột phát hay tất yếu?

Đề:  Cảm nhận về hành động Mị cắt dây cởi trói cứu A Phủ có ý kiến cho rằng “Đó là hành động bột phát “.Ý kiến khác lại khẳng định “Đó là hành động tất yếu phù hợp với tính cách của nhân vật”. Qua việc phân tích diễn biến tâm lí Mị trong đêm đông, anh (chị) hãy bàn luận về ý kiến trên.

  1. Mở bài: Tác giả > Phong cách, nội dung sáng tác chủ đạo > tác phẩm tiêu biểu: VCAP > Nội dung chủ đề tác phẩm > 2 ý kiến
  2. Thân bài
  3. Giới thiệu chung:

– Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, v.v. Tóm tắt nội dung phần đầu phần đêm tình mùa xuân [chú ý làm thật gọn, chỉ chừng 3-4 câu là đủ. Tham khảo: Vợ chồng A Phủ là tác phẩm trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, được sáng tác vào khoảng 1952-1953, là kết quả của cuộc thâm nhập đời sống vào các dân tộc Thái, Dao, Hmông, Mường trên các vùng cao Tây Bắc đất nước. Tác phẩm kể về Mị, người con gái núi rừng bị bắt làm dâu trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Trong quãng thời gian đày đọa đó, Mị đã thể hiện sức sống mãnh liệt của mình qua những khao khát vượt thoát trong đêm tình mùa xuân. Tác phẩm cũng xây dựng hình tượng nhân vật A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh, lương thiện bị nhà thống lí Pá Tra hành hạ vì tội để hổ bắt mất một con bò. A Phủ và Mị sau đó tìm đến với nhau, tự giải thoát cho nhau như kết quả tất yếu của những con người bị đè nén, áp bức bởi các thế lực cường quyền.)

– Giải thích:

+ Ý kiến “hành động bột phát”: nhấn mạnh tính bất ngờ, kì lạ trong hành động của Mị

+ Ý kiến “tất yếu”: nhấn mạnh sự hợp lí trong quá trình thức tỉnh của Mị, đặc biệt là hệ quả của vệc bừng thức sau đêm tình mùa xuân.

  1. Phân tích

[Đoạn phân tích này phải làm đủ các ý của đêm đông để dẫn dắt, không được để đề bài đánh lừa, tức là chỉ nói mỗi chuyện cắt dây trói]

++ Yếu tố tác động: khi đang thức sưởi lửa để xua đi cái lạnh của “những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn”, vô tình Mị “lé mắt trông sang” và thấy “hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”.

++ Diễn biến tâm trạng, hành động:

–             Đầu tiên, Mị lạnh lùng, vô cảm khi “vẫn thản nhiên nổi lửa, hơ tay”; cô đã nghĩ “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.

–             Nhưng khi chợt chứng kiến nước mắt của A Phủ, Mị dần thay đổi. Mị nhớ lại hoàn cảnh của mình trước đây khi bị A Sử hành hạ: “Mị cũng phải trói đứng thế kia, nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”.

–             Cô bắt đầu thấy cảm thông cho A Phủ “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” và căm phẫn tội ác của cha con thống lí “nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác”.

–             Cô nghĩ đến thân mình “là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi” và nhận thức được sự vô lí đối với A Phủ: “người kia việc gì mà phải chết thế”, đồng thời Mị tưởng tượng cảnh nếu A Phủ trốn được, Mị sẽ phải chết thay.

++ Kết quả

–             Dần dần Mị đã thắng sự sợ hãi, “nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…” để dẫn đến kết quả là hành động cắt dây trói nhanh chóng, dứt khoát. Và sau phút dây ngắn ngủi “đứng lặng trong bóng tối”, Mị đã “vụt chạy ra” trốn thoát cùng A Phủ.

–             Hành động này hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển của tâm lí nhân vật. Tuy có tính chất tự phát song đó là kết quả tất yếu của một quá trình bị dồn nén, bức xúc về tinh thần đòi hỏi phải được giải thoát.

–             Với hành động đấy Mị không chỉ cứu người mà cô còn cứu được cả chính mình.

  1. Bàn luận

– Kết luận 2 ý kiến: không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau.

– Tư tưởng nhân đạo của tác giả: niềm tin vào sự sống tiềm tàng; mở ra cho con người cùng khổ con đườn mới tươi sáng [cách mạng]

– Nghệ thuật: khắc họa nhân vật sinh động: tính cách phong phú, phát triển hợp lí, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm; Ngôn ngữ chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính chất tạo hình, giàu chất thơ, đậm đà phong vị miền núi.

III. Kết bài (tự làm)

Thầy Khôi dạy Văn

Categories: Luyện thi Văn 12

Cách làm phần Đọc – hiểu đề Văn 12

Phần đọc – hiểu có thể coi là phần…cho điểm trong đề thi Văn 12. Nhưng làm sao để lấy được trọn 3 điểm không phải là chuyện dễ dàng, chủ yếu là do tâm lí người chấm. Vì vậy mình phải làm mọi cách để có câu trả lời khôn ngoan nhất, hiệu quả nhất, để người chấm khó tính đến đâu cũng phải cho điểm mình, dù có thể mình viết không hay, nhưng phải đúng và đủ. Các bạn theo dõi clip sau để có kinh nghiệm làm bài nhé.

Thầy Khôi dạy Văn

Categories: Luyện thi Văn 12

Phân tích 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Đề: Phân tích 8 câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích để làm rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du
I. Mở bài:
[như đề trên] Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích đã chứng tỏ điều đó, đặc biệt là ở 8 câu thơ cuối: [trích thơ]
II.Thân bài:
1. Tổng:
– Vị trí đoạn trích: Gia đình bị vu oan, bị lừa, bị làm nhục và bị đẩy vào lầu xanh, Kiều rút dao tự vẫn nhưng không chết. Tú Bà đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích để thực hiện một âm mưu mới. Với tâm trạng bẽ bàng, Kiều nhớ tới người yêu, nhớ cha mẹ và quay lại tự đối thoại với lòng mình. Nguyễn Du đã chọn cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Mỗi cảnh vật đều làm rõ một nét tâm trạng của Kiều.
– Giải thích thế nào là bút pháp tả cảnh, ngụ tình. Giới thiệu đôi nét về nghệ thuật này trong “Truyện Kiều”.
– Tám câu cuối: bức tranh tâm trạng của Thuý Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích.
2. Phân
-Một loạt các từ láy, các hình ảnh ẩn dụ, các câu hỏi tu từ, điệp ngữ “buồn trông” đã góp phần thể hiện rõ tâm trạng Thuý Kiều. Cảnh và tình uốn lượn song song. Ngoại cảnh cũng chính là tâm cảnh. Đúng như Nguyễn Du từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
a. Luận điểm 1: Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồn xa xa?
– Một không gian mênh mông cửa bể chiều hôm gợi nỗi buồn mênh mông như trời biển. Hình ảnh con thuyền và cánh buồm thấp thoáng, biến mất trong hoàng hôn biển gợinỗi cô đơn, lạc lõng bơ vơ, gợi hành trình lưu lạc. Cảnh tha hương gợi nỗi nhớ gia đình, quê hương và khát khao sum họp đến nao lòng.
b. Luận điểm 2: Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Nhìn cảnh hoa trôi man mác trên ngọn nước mới sa, Kiều buồn và liên tưởng tới thân phận mình cũng như cánh hoa lìa cội, lìa cành bị ném vào dòng đời đục ngầu thác lũ. Hình ảnh “hoa trôi” gợi kiếp người trôi nổi, bập bềnh, lênh đênh, vô định và một tâm trạng lo lắng sợ hãi cho tương lai vô định của mình.
c. Luận điểm 3: Buồn trông nội cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Nhìn cảnh nội cỏ nhạt nhoà, mênh mông “rầu rầu”: màu của sự úa tàn, thê lương ảm đạm (giống màu cỏ ở nấm mộ Đạm Tiên “dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”, khác màu cỏ trong tiết thanh minh), Kiều có tâm trạng mệt mỏi chán chường, tuyệt vọng và cuộc sống vô vị, tẻ nhạt, cô quạnhvới một tương lai mờ mịt, hãi hùng.
d. Luận điểm 4: Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiêng sóng kêu quanh ghế ngồi.”
Khép lại đoạn thơ lã những âm thanh dữ dội “gió cuốn, sóng kêu” như báo trước những dông tố của cuộc đời sắp ập xuống cuộc đời Kiều. Nàng hốt hoảng, kinh hoàng- chới với như sắp bị rơi xuống vực thẳm sâu của định mệnh.
3. Hợp: Đánh giá chung về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
Có thể nói, thiên nhiên chân thực, sinh động nhưng ũng rất ảo. Đó là thiên nhiên được nhìn qua tâm trạng – được nhìn từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động để diễn tả nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, hãi hùng, dồn đến cơn bão táp của nội tâm, cực điểm của cảm xúc trong lòng Kiều. Toàn là hình ảnh về sự vô định, mong manh, sự dạt trôi, bế tắc, sự chao đảo nghiêng đổ dữ dội. Lúc này, Kiều trở nên tuyệtvọng, yếu đuối nhất, vì thế nàng đã mắc lừa Sở Khanh để rồi dấn thân vào cuộc đời ô nhục. Bốn câu thơ lục bát được liên kết bởi điệp ngữ “buồn trông” nghĩa là buồn mà nhìn xa, mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làmthay đổi hiện tại, nhưng trông mà vô vọng. “Buồn trông” có cái thảng thốt lo âu, có cái xa lạ cuốn hút tầm nhìn, có cả sự dự cảm hãi hùng của người con gái lần đầu lạc bước giữa cuộc đời ngang ngửa. Điệp ngữ kết hợp với các hình ảnh ẩn dụ đứng sau, câu hỏi tu từ cùng các từ láy “thấp thoáng”,”xa xa”,”rầu rầu”,”ầm ầm” đã diễn tả nỗi buồn nhiều bề trong Kiều với nhiều sắc độ khác nhau, trào dâng lớp lớp như những con sóng lòng. Tất cả tạo nên âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc đoạn thơ, cũng là điệp khúc của tâm trạng.
III. Kết bài:
-Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng như khi ngụ tình. Mỗi cảnh thiên nhiên trong đoạn đã diễn tả một sắc thái tình cảm khác nhau của Kiều. Tám câu thơ cuối đoạn trích “Kiều ở lầuNgưng Bích” tạo thành bức tranh tứ bình của tâm trạng, có cấu trúc cân đối hài hòa đã khiến cho bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du được nâng lên mẫu mực cổ điển.
– Đằng sau sự thành công của bút pháp tả cảnh ngụ tình ấy là một trái tim yêu thương vô hạn với con người, là sự đồng cảm, sẻ chia xót thương cho một kiếp hồng nhan bạc mệnh và ngầm tố cáo xã hội bất công đã chà đạp lên quyền sống và nhân phẩm con người.

Like page facebook Thầy Khôi dạy Văn để có nhiều tài liệu hơn

Categories: Luyện thi Văn 9

LỊCH HỌC CÁC LỚP 2017-2018 TẠI NHÀ THẦY KHÔI

ĐỊA CHỈ HỌC: 211/26 MINH PHỤNG, F9, Q6, HCM

NHẬN HỌC SINH LIÊN TỤC — Đăng kí: 0984346280

Freedom of the press leads to a free society.

Phân tích khổ thơ đầu bài Đoàn thuyền đánh cá – Thầy Khôi dạy Văn viết

“Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ xuất sắc, tiêu biểu cho hồn thơ khỏe khoắn của Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám. Đặc biệt là ở khổ thơ đầu, nhà thơ đã miêu tả khung cảnh thiên nhiên và đoàn thuyền ra khơi mang một vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng.

               Trước hết, cảnh biển vào đêm được tác giả miêu tả rất đặc sắc:

“Mặt trời xuống biển….lại ra khơi”

Mặt trời được ví như một hòn lửa khổng lồ đang từ từ lặn xuống mặt biển. Trong hình ảnh liên tưởng này, vũ trụ như một ngôi nhà lớn, với đêm buông xuống là tấm cửa khổng lồ và những lượn sóng là chiếc then cài vững chắc. Hình ảnh so sánh kết hợp nhân hóa, mang đậm chất lãng mạn vừa tạo nên vẻ đẹp huyền ảo cho bức tranh thiên nhiên vừa mở ra thời gian cho bức tranh lao động biển cả, đó chính là lúc màn đêm buông xuống – kết thúc một ngày.

               Chính vào thời điểm thiên nhiên bắt đầu trạng thái nghỉ ngơi thì con người lại bắt đầu quá trình lao động của mình:

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khoi”

Đoàn thuyền chứ không phải chỉ con thuyền ra khơi đã tạo ra sự tấp nập trên biển, gây ấn tượng về một khối lao động đoàn kết vững chãi của con người. Chữ “lại” vừa khẳng định nhịp điệu lao động ổn định của người dân chài ngày qua ngày, vừa thể hiện sự đối lập giữa sự nghỉ ngơi của đất trời và sự lao động của con người. Tác giả đã tạo ra một hình ảnh khỏe, lạ mà vẫn đậm chất hiện thực. Người đánh cá căng buồm và cất câu hát lên, thế nhưng nhà thơ có cảm giác như chính câu hát đó đã làm căng cánh buồm. Câu hát mang theo niềm vui, sự phấn chấn của người lao động trở thành sức mạnh cùng với gió biển làm căng cánh buồm để con thuyền lướt sóng ra khơi. Nghệ thuật ẩn dụ trong hình ảnh thơ lãng mạn này đã góp phần thể hiện một hiện thực. Đó là tâm trạng nao nức, niềm vui phơi phới, tinh thần lạc quan của người dân chài khi ra khơi. Họ ra khơi trong tâm trạng đầy hứng khởi…

Hình ảnh người lao động mới là đề tài quen thuộc của nền văn học hiện đại. Ta đã từng thấy hình ảnh của một anh thanh niên làm công tác khí tượng kiên trì, lặng lẽ trên đỉnh Yên Sơn trong “Lặng lẽ Sapa” của Nguyễn Thành Long; hay một khát vọng cống hiến nhỏ bé trong “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải. Mỗi nhân vật tuy khác nhau về nghề nghiệp, hoàn cảnh, nhưng họ có chung với nhau tinh thần cống hiến lặng thầm cho Tổ quốc. Đó chính là vẻ đẹp giản dị nhưng rất cao quý của người lao động trong thời đại mới.

Thầy Khôi dạy Văn