Archive

Archive for the ‘Luyện thi Văn 12’ Category

MẸO PHÂN BIỆT CÁC PHONG CÁCH NGÔN NGỮ Ở ĐỀ ĐỌC HIỂU

Đây là thứ hay cãi nhau nhất, nhưng chỉ cần nắm vài mẹo nhỏ xíu này là có thể dễ dàng kiếm điểm. Nói là mẹo nhỏ chứ phải động não đó nghen. Xem clip kĩ một chút nhé. Thầy Khôi dạy Văn.

Categories: Luyện thi Văn 12

Mị cắt dây trói: bột phát hay tất yếu?

Đề:  Cảm nhận về hành động Mị cắt dây cởi trói cứu A Phủ có ý kiến cho rằng “Đó là hành động bột phát “.Ý kiến khác lại khẳng định “Đó là hành động tất yếu phù hợp với tính cách của nhân vật”. Qua việc phân tích diễn biến tâm lí Mị trong đêm đông, anh (chị) hãy bàn luận về ý kiến trên.

  1. Mở bài: Tác giả > Phong cách, nội dung sáng tác chủ đạo > tác phẩm tiêu biểu: VCAP > Nội dung chủ đề tác phẩm > 2 ý kiến
  2. Thân bài
  3. Giới thiệu chung:

– Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, v.v. Tóm tắt nội dung phần đầu phần đêm tình mùa xuân [chú ý làm thật gọn, chỉ chừng 3-4 câu là đủ. Tham khảo: Vợ chồng A Phủ là tác phẩm trong tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, được sáng tác vào khoảng 1952-1953, là kết quả của cuộc thâm nhập đời sống vào các dân tộc Thái, Dao, Hmông, Mường trên các vùng cao Tây Bắc đất nước. Tác phẩm kể về Mị, người con gái núi rừng bị bắt làm dâu trừ nợ cho nhà thống lí Pá Tra. Trong quãng thời gian đày đọa đó, Mị đã thể hiện sức sống mãnh liệt của mình qua những khao khát vượt thoát trong đêm tình mùa xuân. Tác phẩm cũng xây dựng hình tượng nhân vật A Phủ, một chàng trai khỏe mạnh, lương thiện bị nhà thống lí Pá Tra hành hạ vì tội để hổ bắt mất một con bò. A Phủ và Mị sau đó tìm đến với nhau, tự giải thoát cho nhau như kết quả tất yếu của những con người bị đè nén, áp bức bởi các thế lực cường quyền.)

– Giải thích:

+ Ý kiến “hành động bột phát”: nhấn mạnh tính bất ngờ, kì lạ trong hành động của Mị

+ Ý kiến “tất yếu”: nhấn mạnh sự hợp lí trong quá trình thức tỉnh của Mị, đặc biệt là hệ quả của vệc bừng thức sau đêm tình mùa xuân.

  1. Phân tích

[Đoạn phân tích này phải làm đủ các ý của đêm đông để dẫn dắt, không được để đề bài đánh lừa, tức là chỉ nói mỗi chuyện cắt dây trói]

++ Yếu tố tác động: khi đang thức sưởi lửa để xua đi cái lạnh của “những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn”, vô tình Mị “lé mắt trông sang” và thấy “hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”.

++ Diễn biến tâm trạng, hành động:

–             Đầu tiên, Mị lạnh lùng, vô cảm khi “vẫn thản nhiên nổi lửa, hơ tay”; cô đã nghĩ “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.

–             Nhưng khi chợt chứng kiến nước mắt của A Phủ, Mị dần thay đổi. Mị nhớ lại hoàn cảnh của mình trước đây khi bị A Sử hành hạ: “Mị cũng phải trói đứng thế kia, nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ không biết lau đi được”.

–             Cô bắt đầu thấy cảm thông cho A Phủ “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết” và căm phẫn tội ác của cha con thống lí “nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác”.

–             Cô nghĩ đến thân mình “là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi” và nhận thức được sự vô lí đối với A Phủ: “người kia việc gì mà phải chết thế”, đồng thời Mị tưởng tượng cảnh nếu A Phủ trốn được, Mị sẽ phải chết thay.

++ Kết quả

–             Dần dần Mị đã thắng sự sợ hãi, “nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…” để dẫn đến kết quả là hành động cắt dây trói nhanh chóng, dứt khoát. Và sau phút dây ngắn ngủi “đứng lặng trong bóng tối”, Mị đã “vụt chạy ra” trốn thoát cùng A Phủ.

–             Hành động này hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển của tâm lí nhân vật. Tuy có tính chất tự phát song đó là kết quả tất yếu của một quá trình bị dồn nén, bức xúc về tinh thần đòi hỏi phải được giải thoát.

–             Với hành động đấy Mị không chỉ cứu người mà cô còn cứu được cả chính mình.

  1. Bàn luận

– Kết luận 2 ý kiến: không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau.

– Tư tưởng nhân đạo của tác giả: niềm tin vào sự sống tiềm tàng; mở ra cho con người cùng khổ con đườn mới tươi sáng [cách mạng]

– Nghệ thuật: khắc họa nhân vật sinh động: tính cách phong phú, phát triển hợp lí, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm; Ngôn ngữ chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính chất tạo hình, giàu chất thơ, đậm đà phong vị miền núi.

III. Kết bài (tự làm)

Thầy Khôi dạy Văn

Categories: Luyện thi Văn 12

Cách làm phần Đọc – hiểu đề Văn 12

Phần đọc – hiểu có thể coi là phần…cho điểm trong đề thi Văn 12. Nhưng làm sao để lấy được trọn 3 điểm không phải là chuyện dễ dàng, chủ yếu là do tâm lí người chấm. Vì vậy mình phải làm mọi cách để có câu trả lời khôn ngoan nhất, hiệu quả nhất, để người chấm khó tính đến đâu cũng phải cho điểm mình, dù có thể mình viết không hay, nhưng phải đúng và đủ. Các bạn theo dõi clip sau để có kinh nghiệm làm bài nhé.

Thầy Khôi dạy Văn

Categories: Luyện thi Văn 12

So sánh Sông Đà – Sông Hương

Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về sự tương đồng và nét độc đáo riêng của hình tượng sông Đà và sông Hương trong hai tác phẩm: “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).

  1. Mở bài

Sông nước quê hương từ lâu đã là mạch nguồn tuôn chảy trong nền văn chương nghệ thuật dân tộc. Trong đó, có lẽ gợi cảm, độc đáo hơn cả là hình tượng sông Đà trong tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Hình tượng hai con sông ấy dường như đã kết đọng những vẻ đẹp của sông núi quê hương và là những đỉnh cao văn chương của hai nhà tuỳ bút xuất sắc bậc nhất văn đàn.

  1. Thân bài
  2. Sự tương đồng của hai hình tượng

1.1. Sông Đà và sông Hương đều mang những nét đẹp của sự hùng vĩ

  1. Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà thể hiện qua sự hung bạo dữ dội của nó trên nhiều phương diện :

– Hướng chảy “độc Bắc lưu” …

– Bờ sông dựng vách thành …

– Thác nước dày đặc

– Các hút nước nguy hiểm …

–  Trùng vi thạch thuỷ trận (phần về trùng vi thạch thuỷ trận chỉ gợi sơ qua)

  1. Sông Hương cũng thật hùng vĩ khi đi giữa lòng Trường Sơn

–  Sông Hương là “ bản trường ca của rừng già”  hùng tráng dữ dội “ rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, “cuộn xoáy như cơn lốc …”

–  Ở khúc thượng nguồn ấy, sông Hương đầy hoang dã, phóng khoáng-  như “cô gái Di  – gan phóng khoáng và man dại”, có “ một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”…

1.2. Hai dòng sông đều lấp lánh vẻ đẹp thơ mộng lãng mạn

  1. Sông Đà :

– Dáng vẻ tuôn dài như áng tóc trữ tình…

– Sắc nước thay đổi từng mùa…

– Hội tụ bao vẻ gợi cảm …

  1. Sông Hương :

–  Ở thượng lưu: cũng đã thật trữ tình mĩ lệ “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”

–  Khi về đến đồng bằng sông Hương giống như  “ người gái đẹp nằm ngủ mơ màng” giữa cánh đồng Châu Hoá đầy hoa dại được người tình mong đợi đến đánh thức.”

–  Khi vào giữa lòng thành phố Huế sông Hương như“điệu slow tình cảm”- một giai điệu trữ tình chậm rãi dành riêng cho xứ Huế.v.v…

1.3. Hình tượng hai con sông đều được khắc hoạ bằng ngòi bút tài hoa uyên bác: cả hai nhà văn đều đã vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc hoạ hình tượng. [phân tích cái nhìn điện ảnh, quân sự, hội họa…]

  1. Nét độc đáo của mỗi hình tượng

2.1. Hình tượng sông Đà :

– Được tô đậm nhất ở nét hung bạo dữ dội – tập trung rõ nét nhất ở hình ảnh trùng vi thạch thuỷ trận: đầy tướng đá, quân nước, hàng tập đoàn cửa tử …

–  Sông Đà được cảm nhận chủ yếu thông qua lăng kính nghiêng về sự phi thường khác lạ: tiếng nước như tiếng rống ngàn con trâu mộng giữa rừng luồng nứa nổ lửa; đá trên sông như những tên tướng mặt gỗ ngược …

–  Sự hung bạo dữ dội của Đà giang đã làm cái nền thể hiện tài hoa trí dũng của người lái đò sông Đà

2.2. Hình tượng sông Hương :

–  Được tô đậm nhất ở nét lãng mạn nữ tính –  sông Hương luôn mang dáng vẻ một người gái đẹp, say đắm tình yêu: “cô gái Di  -gan phóng khoáng…”;  “ người gái đẹp nằm ngủ mơ màng”; “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya; sông Hương như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng để nói một lời thề trước khi đi xa… ; trong đời thường sông Hương  “làm một người con gái dịu dàng của đất nước”.

–  Sông Hương được nhìn chủ yếu qua lăng kính tình yêu:

+ Xuôi về phía thành phố là “một cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp

+ Khi vào giữa lòng thành phố Huế sông Hương “mềm hẳn đi, như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu”…,

+ Trước khi đổ ra cửa biển, Sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu với ” nỗi vương vấn , cả một chút lẳng lơ kín đáo …

– Thông qua hình tượng Hương giang mang đậm chất nữ tính ấy, nhà văn đã thể hiện được vẻ đẹp lãng mạn trữ tình thơ mộng của đất trời và con người xứ Huế .

  1. Đánh giá chung

–  Qua những vẻ đẹp tương đồng của sông Đà và sông Hương cho thấy sự gặp gỡ của hai ngòi bút ở tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào đối với non sông đất nước.

– Những nét riêng ở hình tượng sông Đà và sông Hương thể hiện tài năng văn chương độc đáo của mỗi nhà văn

Thầy Khôi dạy Văn

211/26 Minh Phụng, F9, Q6. Nhận học sinh luyện thi 12 liên tục. — 0984346280 —-